24/3/07

Hủ tiếu Sa Đéc


Đã từ lâu có 3 thương hiệu hủ tiếu nổi tiếng nhất ở các tỉnh phía Nam, đó là: Mỹ Tho, Nam Vang và Sa Đéc. Tuy không nổi đình nổi đám bằng hai "bậc đàn anh", nhưng hủ tiếu Sa Đéc vẫn có một giá trị đặc biệt trong lòng người sành thưởng thức món ngon.


Bánh hủ tiếu Sa Đéc sợi vừa phải, mềm mà không bở, không dai, vị không chua, thơm mùi gạo mới, trắng tươi màu sữa. Bánh hủ tiếu Sa Đéc làm nên hủ tiếu Sa Đéc. Nước lèo hủ tiếu Sa Đéc được nấu công phu với xương heo, phải thăm chừng độ lửa, phải biết hớt bọt mới trong và tỏa thơm hương vị, cũng là một bí quyết.


Nguyên liệu quan trọng khác của hủ tiếu Sa Đéc là thịt nạc băm, thịt nạc nguyên miếng dày, miếng chả vàng, tim, gan, phèo... đều mới "ra lò", còn nóng ấm. Điểm xuyết nét đẹp mắt và ngon thơm miệng lưỡi cho tô hủ tiếu Sa Đéc có hành lá xắt nhuyễn, mấy cọng ngò, nhất là sự hiện diện của "tăng xại" - cải xắt nhỏ ướp hương vị đặc trưng của người Hoa. Bên cạnh tô hủ tiếu là dĩa giò cháo quẩy, dĩa rau tươi (giá, hẹ cắt đôi, cần tàu và xà lách), chén nhỏ xì dầu, lọ ớt sừng trâu xắt lát ngâm giấm. Trước năm 1975, ở Sa Đéc có các quán hủ tiếu nổi tiếng là: Quán chú Cá, Chí Thành, Lãnh Nam (đường Trần Hưng Đạo).


Trước năm 1975, hủ tiếu Sa Đéc có mặt tại Sài Gòn, do một nữ nghệ sĩ lấy sinh quán và thứ của mình làm nghệ danh: Bà Năm Sa Đéc. Quán hủ tiếu của bà Năm Sa Đéc nằm ở góc đường Nguyễn Tri Phương - Hùng Vương, bày trí bằng tre lá theo phong cách "văn minh miệt vườn".


Bánh hủ tiếu của bà được lấy từ làng bột Tân Phú Đông mỗi ngày, do cánh xe đò Sa Đéc - Sài Gòn chuyển tới. Khách có thể gọi tô hủ tiếu xương hoặc thịt. Dù là xương hay thịt thì đều mềm và có hương vị đặc biệt không đâu có. Hương vị ấy là do tay nghề của người nữ nghệ sĩ tài ba này nêm nếm. Bên cạnh hủ tiếu Sa Đéc, quán của bà còn bán bánh bao làm theo công thức mà ngày xưa ông Cả Cần ở Long An ưa chuộng, được người ta gọi là bánh bao Cả Cần.


Ngày nay, hủ tiếu Sa Đéc bình dân nhưng ngon bán ở gần Trại hòm Sáu Lâu (đường Trần Phú); cầu Đình, cầu Đốt, khoảng 6.000 đồng/tô. Bình dân nhất là quán chị Dậu ở đường Nguyễn Tất Thành, nơi có cây vú sữa, qua cầu ván bắc ngang con kinh. Hủ tiếu chị Dậu được nhiều người tìm đến thưởng thức vì xương mềm, đặc biệt nước lèo ngọt xương (vì chị tuyệt đối không dùng bột ngọt).


(Theo Thanh Niên)

7/2/07

Làng hoa Sa đéc vào mùa Tết

Cùng với những loại hoa truyền thống như hồng, cúc, vạn thọ..., làng hoa Sa Đéc đã ươm trồng được thêm những loại hoa, kiểng mới hấp dẫn như mai dạ thảo, xương rồng Vạn lý trường thành, hoa hồng thiên hương, hoa ngọc mai...

Năm nay nhiều nơi thất mùa hoa nên hoa Sa Đéc càng có giá. Những ngày này, hoa Sa Đéc đang lên xe đò và ghe, xuồng để vận chuyển lên TP.HCM, thị trường tiêu thụ lớn nhất, đón tết.


Làng hoa Sa Đéc có diện tích trên 250ha với gần 2.000 hộ làm nghề. Ở đây có trên 1.000 chủng loại hoa, mỗi năm xuất đi các tỉnh, thành và cả sang Lào, Campuchia và Trung Quốc trên 10 triệu sản phẩm, doanh thu trên 100 tỉ đồng/năm.


Trồng hoa, kiểng là nghề truyền thống có từ hơn 100 năm nay ở Sa Đéc. Sự tài hoa trong đôi tay, đôi mắt của những nghệ nhân nơi đây kết hợp với thời tiết, khí hậu thích hợp khiến trăm hoa càng thêm thắm sắc.




Cho hoa “uống nước”
Hồng thiên hương, một loài hoa mới nhập giống từ Thái Lan, sẽ được tung ra vào dịp tết năm nay

Đan giỏ cho hoa hồng tiểu muội. Nghề hoa kiểng tạo việc làm cho hàng loạt lao động dịch vụ khác

DŨNG CHINH
Ảnh: NGUYỄN CÔNG THÀNH

(Tuổi Trẻ)

6/2/07

Chùa Kiến An Cung

Kiến An Cung là một ngôi chùa cổ có niên đại gần trăm năm. Lối kiến trúc độc đáo, mang đậm phong cách Trung Hoa đã tạo nên nét đặc trưng riêng của một ngôi chùa Hoa ở Nam Bộ. Chùa có diện tích trên 1.000m2, tọa lạc tại phường 2, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Mặt chùa hướng ra bờ sông Cái Sơn.


Chùa Kiến An Cung được xây dựng từ năm 1924 đến năm 1927 thì hoàn thành, do nhóm người Hoa Phước Kiến cùng đóng góp xây dựng. Lúc bấy giờ, có một thương gia tên là Huỳnh Thuận đã vận động đông đảo người Hoa Phước Kiến ở Sa Đéc hùn tiền để lập chùa. Thứ nhất là để duy trì tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, thứ hai là có nơi để liên kết cộng đồng, hội họp, bàn bạc việc buôn bán, trao đổi thông tin...

Kiến An Cung thờ nhiều vị thần nhưng vị thần chính ở đây là Ông Quách. Khác với người Hoa Quảng Đông thường thờ Quan Công, cộng đồng người Hoa Phước Kiến có lòng sung kính Ông Quách hơn. Vì lẽ đó mà Kiến An Cung còn được gọi là chùa Ông Quách. Ông Quách còn gọi là Quách thành Vương công. Quách thành Vương công cũng là Bảo an quảng trạch Tôn Vương. Thời ngũ đại hậu Tấn, người gốc huyện An Khê, tỉnh Phước Kiến. Từ lúc cha qua đời, mẹ dời chỗ ở đến Thi Sơn, tại huyện Nam An, tỉnh Phước Kiến. Thành vương sinh ra tính khác thường, ý khí hào vĩ, phụng sự mẹ hiền hiếu thuận. Tiên thế đời đời hành thiện đều được phong hầu hưởng phước lộc.


Năm 13 tuổi, thành vương đắc đạo tại núi Phụng Sơn, tọa trên cây mây khô rồi hóa thân. Thời ấy, có kiến lập Phụng Sơn tự để thờ phượng, nhằm đời hậu Tấn Thiên Phúc năm thứ 5 (nhằm ngày 22 tháng 8).Đến trào Tống ông đã từng hiển thánh giúp Tống Thái Tổ chinh phạt Nam Đường, thọ phong chức Quảng Lợi vương.Vào thời nhà Minh, lúc hoàng cung bị phát hỏa, Thành Vương lại hiển thánh cứu hỏa bình yên, và trục lùi giặc Lùn trên biển cả, được gia phong chức “Ứng linh uy hầu”. Đến vua Thanh Đạo Quang, lại gia phong là “Quảng trạch tôn vương”.Quách Thành vương công sinh ngày 22 tháng 2, đắc đạo ngày 22 tháng 8.


Kiến An Cung là một ngôi chùa rất uy nghi và lộng lẫy. Sân chùa rộng và thoáng mát, bên ngoài có hàng rào kiên cố bao bọc. Toàn bộ sân chùa đều được tráng xi măng nên rất sạch sẽ. Nóc chùa lợp ngói âm dương, đầu mái lợp ngói lưu li hình ống. Trên nóc mái có đặt bốn tháp nhỏ nằm ngang, trong tháp đó có tượng các vị tiên, phật, thánh thần. Giữa nóc mái có hình lưỡng long chầu nguyệt. Hai bên lối vô cửa chính có hai con kỳ lân bằng đá xanh to lớn. Hai bên tả hữu có hình vẽ hai ông thần đứng giữ cửa. Kế đến là một sân thiên tỉnh dùng để đón lấy ánh sáng mặt trời. Hai bên là 12 hàng cột to tròn chống đỡ mái chùa nên càng tạo được vẻ uy nghiêm hơn. Xung quanh cột được chạm trổ tinh vi, được ốp gỗ với những liễn đối được viết bằng chữ Hán. Xung quanh là những hoành phi, võng lọng được chạm khắc rất tinh xảo và tạo được sự lung linh, lộng lẫy cho ngôi chùa. Trước gian chính điện có hai hàng binh khí cổ hai bên. Gian chính điện được chia làm ba gian. Gian giữa thờ vị thần chính là Quảng trạch tôn vương, mặt đỏ hồng, tay nâng đai ngọc. Hai bên có hai vị cầm ấn kiếm, tướng diện oai phong lẫm liệt, bên trái là bàn thờ của Thanh Thủy đại sư, bên phải thờ Bảo Sanh đại đế. Mé ngoài thờ bàn Hội đồng, huyền thiên thượng đế và Quan thánh đế quân. Cạnh bên có đông lang và tây lang để làm chỗ tiếp tân khi cúng kiến. Mỗi vị thần được đặt trong một cái khánh thờ, khánh thờ rất to, được chạm trổ tỉ mỉ, trang trí đầy màu sắc với những võng lọng xung quanh nên tạo được không khí trang nghiêm. Phía trên các khánh thờ có một hoành phi đề bốn chữ Hán “Phú bảo an đông”. Hai bên cột có đôi liễn:


Đông thôn chúc thánh đức thành

cung hách trạc thạnh trùng tu

Phú Mỹ tạ thần án, khánh hạ nguy nga hưng miếu tự


Đặc biệt xung quanh ngôi chùa, ở hai bên vách tường có rất nhiều bức họa theo lối thủy mạc hết sức sắc sảo, nét vẽ uyển chuyển, sắc bén trông thật linh động, với các nội dung khuyến thiện trừ tà, nội dung truyện Phong thần, Tam quốc diễn nghĩa, Tây du ký... ý vị, thâm trầm.


Hầu hết những vật liệu trong ngôi chùa này đều được chuyên chở từ Trung Quốc sang, ngay cả thợ xây cất, các họa sư cũng đều được rước từ Trung Quốc. Đã qua lớp bụi thời gian gần cả trăm năm mà ngôi chùa trông vẫn bề thế và nét vẽ vẫn không phai mờ. Quả là tài nghệ của những người thợ lành nghề thuở xưa.


Hằng năm, chùa có hai kỳ cúng lớn. Ngày 22 tháng 8 âm lịch là ngày vía thành đạo, còn ngày 22 tháng 2 âm lịch là vía ngày sinh. Trong các ngày vía này, Ban trị chùa có mời chính quyền địa phương đến dự, đồng thời khách thập phương cũng tới chùa cúng đông đúc, vui như ngày hội, thu hút được một lượng lớn du khách từ mọi nơi kéo về.


Với lối kiến trúc mang đậm phong cách Trung Hoa, với một nền văn hóa truyền thống đặc sắc, Kiến An Cung đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 27-4-1990.


Bài, ảnh: Trần Phỏng Diều

(Báo Điện tử Cần Thơ)

28/1/07

Về Sa Đéc thăm xứ sở “Người tình”

Du khách Pháp yêu Sa Đéc một cách đặc biệt vì họ tìm thấy một tình yêu rất Pháp qua nơi này

Thị xã Sa Đéc của Đồng Tháp được nhiều người nước ngoài tìm đến bởi tiểu thuyết Người tình (L’amant) của nữ văn sĩ Pháp danh tiếng Marguerite Duras. Đó là một chuyện tình có thật gắn liền với ký ức thời thiếu nữ của bà. Và trên chuyến phà trên dòng Mê Kông nối liền Sa Đéc với Vĩnh Long, Marguerite Duras đã gặp người tình của mình, Huỳnh Thủy Lê. Từ đó, một thiên tình sử tráng lệ được ra đời.

CHUYẾN PHÀ ĐỊNH MỆNH THÀNH QUÁ KHỨ.-

Hiện bày trước mắt chúng tôi là một đô thị cổ nhỏ nhắn với cảnh tấp nập trên bến dưới thuyền. Những cảnh đời sống diễn ra hai bên bờ

sông Mê Kông với vẻ bình dị từ muôn đời nay. Nhưng tất cả không làm người khách lạ có cảm giác bất ổn về chuyện mỹ quan hay ô nhiễm nào đó. Dường như, thiên nhiên với cuộc sống con người luôn sống chan hòa như chưa hề một lần đối nghịch. Nhưng chỉ cần chảy qua khỏi thị xã, con sông lại mang dáng vẻ khác. Cũng rất xanh mát nhưng có gì đó lành lạnh, cứ cuồn cuộn trôi. Một nhánh sông Mê Kông rẽ vào thị xã càng thêm mềm mại bởi những làng hoa, những cây đa bến cũ điểm tô. Hãy nghe Marguerite Duras nói về dòng sông nơi mẹ mình dạy học: “Mẹ tôi thỉnh thoảng nói với tôi rằng không có nơi chốn nào trong suốt cuộc đời tôi lại nhìn thấy được một dòng sông đẹp đẽ, vĩ đại và hoang dã như nơi đây. Sông Mê Kông và những phụ lưu của nó đổ ào ra biển, lưu lượng nước khổng lồ tự nhiên biến mất dưới sự soi mòn của đại dương. Trên một vùng bao la vô tận của tầm nhìn, con sông chảy uốn khúc trong trượt dốc của đất trời thấp xuống...”.

Không mấy khó khăn để tìm hiểu thiên tình sử Marguerite Duras bởi dân Đồng Tháp đã nằm lòng mọi chuyện. Họ càng tự hào khi thấy thiên tình sử của Marguerite Duras và Huỳnh Thủy Lê được tái hiện qua bàn tay của đạo diễn tài ba Jean - Jacques Annaud. Chính hình ảnh mở đầu phim Người tình của Jean - Jacques Annaud với một chuyến phà sang sông Mê kông lúc trời sáng đã làm bao trái tim thổn thức. Thiếu nữ Jean March dáng vẻ phớt đời với đôi môi đỏ thẫm nhìn về phía dòng sông xa xăm. Xung quanh là những con người lam lũ Việt Nam làm nổi bật dáng vẻ Tây phương đầy tâm trạng ấy. Chàng Hoa kiều giàu có đã tìm thấy một tình yêu của riêng mình từ dáng đứng ấy. Khi xem những thước phim của Jean - Jacques Annaud, nhiều du khách đã muốn đến ngay xứ sở chín rồng với hy vọng tìm những phút rung động cho riêng mình. Chuyến phà định mệnh ấy nay đâu? có người nói là phà Cao Lãnh. Nhưng theo một số tài liệu của Sở Du lịch Đồng Tháp lại là phà Mỹ Thuận. Quả là tiếc nuối cho những người theo dấu Người tình khi chuyến phà ấy đã không còn vì đã có cây cầu Mỹ Thuận hoành tráng bắc ngang.

THẾ GIỚI CỦA HUỲNH THỦY LÊ.-

Dạo quanh thị xã, cảm giác quen thuộc của những trang tiểu thuyết Người tình lại hiện về. Những ngôi nhà kiểu Pháp xuất hiện lác đác với dấu vết thời gian đang tàn phá. Khu chợ thị xã với dãy phố mái ngói rêu phong kiểu Trung Hoa. Những con đường với hai hàng cây vào nhau như vòng tay âu yếm của người tình. Trên con đường Nguyễn Huệ, khóm 1, phường 2, nhà người tình Huỳnh Thủy Lê hiện dần ra. Mọi thứ có vẻ khiêm tốn hơn những gì phim ảnh, bút mực ngợi ca. Bởi ngôi nhà của Huỳnh Thủy Lê trong phim là một công trình kiến trúc cổ ở tận xứ Bình Thủy (Cần Thơ) đã trên 130 tuổi. Ngôi nhà của Huỳnh Thủy Lê cũng ngần ấy tuổi được khởi công vào năm 1889 và trùng tu năm 1917. Sau những phút ngỡ ngàng, chúng tôi dạo bước theo lối cũ vào nhà Người tình. Đã một thời, ngôi nhà được ngành công an sử dụng làm nơi làm việc khiến nhiều du khách tìm đến xót xa ra về. Bởi họ không thể đứng giữa ngôi nhà đã hình thành một Hoa kiều phong nhã như tơ trời. Họ càng buồn khi không được đặt chân vào gian phòng sặc mùi á phiện của cha Huỳnh Thủy Lê để mường tượng cảnh ông quỳ lạy van xin cho mối tình ngang trái của mình.

Ngôi nhà có diện tích 258 m2 với lối kiến trúc Đông - Tây giao duyên. Lối kiến trúc chính vẫn là nhà 3 gian như hàng ngàn ngôi nhà miền Tây. Mặt tiền được trang trí bởi các hoa văn chuông muông, cây cỏ tượng trưng cho 4 mùa cầu mong sự sung túc cho gia chủ. Trong khi đó cửa sổ được trang trí với hoa văn phương Tây thường thấy. Những vật dụng hiếm hoi còn giữ lại là chiếc bàn thờ Quan Công giữa sảnh với những chạm khắc tinh xảo, màu nâu bóng vì thời gian. Một chiếc gương to hoen ố, tủ trang điểm, tủ quần áo... Bước vào gian trong là thế giới của gia đình Người tình. Hai căn phòng gỗ hai bên với họa tiết cây trúc thanh mảnh. Chút rờn rợn của căn nhà quyền lực ấy còn sót lại trên chiếc phản gỗ khảm xà cừ nơi ông Huỳnh Thuận ép con mình từ bỏ tiếng nói của con tim để cứu vớt một danh gia sắp hết thời. Sau đêm nghiệt ngã của đời mình, Huỳnh Thủy Lê đã thành hôn với tiểu thư Nguyễn Thị Mỹ, người Gò Công (Tiền Giang) nổi tiếng về giàu có. Căn phòng của đôi vợ chồng bất đắc dĩ ấy nay đã mất dấu vì không được bảo tồn. Khu vườn xanh như ngọc của ngôi nhà cũng biến mất để thay bằng một sân xi măng lạc điệu. Gian nhà bếp bên góc trái khu đất cũng biến mất từ lúc nào cũng không ai hay biết.

NƯỚC NÀO CHẲNG MÁT, TÌNH NÀO CHẲNG NỒNG.-

Mặc dù đã cố níu kéo để được sống trên mảnh đất của những rung động tình yêu nhưng Huỳnh Thủy Lê buộc phải theo vợ con lên Sài Gòn. Cuộc hôn nhân đã cứu được gia đình họ Huỳnh. Ông vẫn sống cuộc đời sung túc, danh vọng và còn làm sui với một phó tổng thống của chính quyền Sài Gòn trước đây. Ông mất vào năm 1972, được an táng trên mảnh đất kỷ niệm Sa Đéc, nay tọa lạc trên đường 30-4 (phía sau khách sạn Bông Hồng). Đến năm 1996, Marguerite Duras cũng qua đời mang theo nỗi nhớ khôn nguôi về người tình Trung Hoa, về dòng sông xứ Việt dù giam mình trong kinh thành ánh sáng Paris.

Trên con đường tìm lại “dấu xưa tích cũ” của Marguerite Duras, chúng tôi còn tìm đến ngôi trường tiểu học Trưng Vương (xưa là École De jeunes filles) do mẹ bà làm hiệu trưởng. Ngôi trường giờ đã bị bê tông hóa hơn phân nửa. Một con lộ được phóng qua sân trường như ngăn đôi. Phía học sinh nữ vẫn còn được giữ nguyên kiến trúc Pháp là nơi khách Pháp thường tìm đến giao lưu. Ngôi nhà của gia đình Marguerite Duras gần Cầu Quay không còn nhận ra dấu tích. Có người tự nhận nơi mình ở chính là căn nhà của bà nhưng không thể đưa ra những minh chứng xác thực.

Trở về ngôi nhà của Người tình trong một buổi chiều gió lộng. Gió từ dòng sông Sa Đéc thổi vào bao lơn trước nhà rồi đi vào thế giới sâu hun hút của Huỳnh Thủy Lê. Người tình đã đi xa, dấu vết kỷ niệm cũng nhạt nhòa nhưng nước sông nào chẳng mát, tình yêu nào mà chẳng nồng nàn... Cứ thế, hàng ngàn người âm thầm về chốn này như yêu thương tuôn chảy không phút nghỉ ngơi.

Phạm Thái Thanh

(Người Lao động)

11/11/06

Sinh nhật Thư

Thế là sau bao nhiêu ngày mong đợi, lần họp mặt của nhóm đã đến. Tối ngày 10/9/2006, mọi người lại có dịp gặp nhau trong buổi sinh nhật Thư. Từ khi được trao "quyền đăng cai" trong buổi sinh nhật Nguyệt Minh, Thư đã chuẩn bị rất chu đáo cho buổi sinh nhật của mình.

Để có được buổi họp mặt này, Thư đã liên hệ trước với nhà tổ chức ăn chơi hàng đầu của nhóm là Ngọc Minh để nhờ sắp xếp thời gian và địa điểm. Và địa điểm họp mặt không đâu khác vẫn là nhà Minh, căn hộ nhỏ nhắn ở chung cư Ấn Quang.

Qua kinh nghiệm nhiều lần tổ chức ăn chơi, lần này Minh làm việc rất chuyên nghiệp. Minh đã viết ra một bản kế hoạch rất chi tiết về giờ giấc, địa điểm; sau đó gởi tin nhắn qua Yahoo! Messenger để thông báo cho mọi người. Thư cũng cẩn thận không kém, nhắn tin qua di động để mời mọi người đi dự tiệc. Ai nấy cũng cảm thấy hứng khởi mong đến ngày họp mặt, không phải chỉ vì được Thư dẫn đi ăn mà còn vì mọi người muốn gặp lại nhau để nói chuyện, tâm tình, trêu ghẹo nhau sau ba tuần không gặp mặt.

Và như đã hẹn, từ 5 giờ chiều, các bạn lần lượt đến nhà Minh. Ai nấy cũng xúng xính trong những bộ quần áo đẹp, tươm tất. Căn hộ nhỏ của Minh lại một phen hứng chịu những tiếng nói chuyện náo nhiệt, những trận cười vang dội. Bọn chúng tôi là như vậy đấy, vẫn còn nguyên cái tính hồn nhiên của thuở cắp sách đến trường.

Trong lần họp mặt này , nam thì có Tưởng, Trí Nguyễn, Nguyên, Hoàng Duy và Phú Hiệp. Còn nữ thì vẫn là những gương mặt quen thuộc và tích cực trong các phi vụ ăn chơi như Lam Thơ, Ngọc Minh, Thanh Tuyền, Hồng Vân, Nguyệt Minh, và dĩ nhiên không thể thiếu Minh Thư. Thư được tặng nhiều món quà dễ thương, trong đó quà của Tưởng là ấn tượng và nổi bật nhất, một con thú nhồi bông to mà đến giờ mọi người vẫn còn tranh cãi không biết nó là con gấu hay con heo.

Sau khi đã xơi hết một rổ táo và sơ-ri của Minh cùng những trận cưởi hả hê, cuối cùng mọi ngừơi cũng chọn được địa điểm để đi, đó là quán bánh tráng Trảng Bàng trên đường Lý Thái Tổ. Đây là gợi ý của Hoàng Duy, một thành viên tích cực mới của nhóm, nhằm giúp tìm ra một món ăn mới lạ so với các món lẩu quen thuộc.

Quán ăn cách nhà Minh không xa nên mọi người đến đó rất nhanh chóng. Đây là quán bán món ăn đặc sản Tây Ninh. Mọi người chọn chỗ ngồi trên lầu nơi khá thoáng mát và yên tĩnh thích hợp để mọi người trò chuyện và cười giỡn thoải mái. Trí và Duy đến sau và khi bước vào hai bạn mang theo một bó hoa lưu ly tuyệt đẹp để tặng Thư.

Hai món ăn được chọn là bánh tráng cuốn thịt luộc và bánh tráng cuốn bò lá lốt. Ngay tức khắc những dĩa rau to tướng với đủ loại rau lạ lẫm, những dĩa bánh tráng, những dĩa bún, những chén nước mắm được mang ra trước. Thế là mọi người cùng nhau ngồi đoán tên các loại rau lạ. Vân rất tự tin chỉ một loại rau và nói đây là lá cóc, thứ lá mà thuở nhỏ Vân vẫn hay ăn. Ai cũng giật mình. Còn Nguyên cũng hùng hồn không kém khi chỉ một loại rau và nói đó là cây sao nhái. Mọi người chẳng ai tin. Thơ nói đó là cây vạn thọ. Khi anh phục vụ đến, các cô gái đã không bò lỡ cơ hội hỏi tên các loại rau. Ai cũng ngạc nhiên vì Vân và Nguyên nói đều đúng. Thật không thể tin được, mình lại ăn những loại cây đó.

Và khi các dĩa thịt đã được mang ra, buổi tiệc được bắt đầu. Ai nấy cũng lúi cúi cuốn cuốn, chấm chấm, nhai nhai. Cuốn của Tưởng thì to như thể không thiếu một thứ nào trong đó; cuốn của Trí thì tua tủa rau đến mức không thể cầm mà phải cho vào chén ăn; cuốn của Vân thì nhò nhắn nhưng đầy đủ dinh dưỡng vì mỗi cuốn luôn có hai miếng thịt. Tuyền và Minh thì không phải chỉ có ăn mà còn biết dùng những cọng rau để giấu những miếng bò lá lốt. Hoàng Duy gọi họ là những con mèo vì mèo cũng hay giấu như thế.

Vân là người ăn từ tốn nhất nhưng lại bền bĩ nhất. Vừa ăn vừa nói đủ thứ chuyện khôi hài rồi cường sang sảng, đó là bí quyết giúp Vân ăn hoài không thấy no. Hình ảnh đầy tình cảm nhất của buồi tiệc là cảnh Tường ngồi chăm chút cuốn từng cuốn một cho Thư. Thấy thế bạn bè ai nấy cũng không khỏi ao ước mình cũng có được một người như thế.

Sau khi ăn xong, cũng theo gợi ý của Duy, mọi người đi uống nước ở quán cà phê Cát Đằng trên đường Trần Hưng Đạo. Quán rộng nhưng hơi đông. Mọi người chọn chỗ ngồi cũng ở trên lầu. Tại đây còn có thêm Nghi và Bửu Hiệp khiến cho không khí nói chuyện thêm hào hứng. Món kem trái dừa mà Minh và Thơ chọn ăn đã tạo ra một cuộc tranh giành nhốn nháo giữa các bạn. Ai cũng tranh thủ múc một miếng ăn thử.

Vừa uống nước mọi người vừa bàn kế hoạch cho lần đi chơi tới. Mọi người dự định trong tháng tới sẽ tổ chức hai đợt ăn chơi lớn là Trung Thu và chuyến đi dã ngoại ở thác Yang Điền. Thơ nhanh nhảu suy suy tính tính thời gian đi. Sau một hồi bàn cãi sôi nổi nhưng vẫn chưa tìm ra được ngày nào thích hợp cho hai cuộc họp mặt, Thơ quyết định sẽ tổ chức ăn Trung Thu trước vào tối thứ Sáu 6/10 rồi sau đó sẽ có kế hoạch đi chơi thác Yang Điền. Mọi người nhất trí với quyết định đó.

Trong lúc uống nước còn có một sự việc gây nên sự tò mò cho mọi người. Đó là việc Nguyên nhận được một cuộc điện thoại bí ẩn khiến Nguyên phải chạy vào toilet nói chuyện hơn nữa tiếng đồng hồ. Ai cũng lo lắng không biết Nguyên có gặp vấn đề gì trong đó không nên hết Duy rồi đến Thơ chạy vào để xem chừng. Nguyên thì vẫn nói say sưa. Đến khi mọi người quyết định ra về Nguyên vẫn chưa ra. Thế là các bạn đành về trước mà trong lòng vẫn còn mãi thắc mắc.

Vậy là buổi họp mặt kết thúc khoảng 9g30 tối. Các bạn nói lời tạm biệt và hẹn gặp lại sau ba tuần nữa trong ngày Trung Thu, ngày Tết của thiếu nhi.

Related Posts with Thumbnails